Skip to main content
x
1

By Kate Ambler, Mark Middleton, Tom Moyes, Sylvan Herskowitz, Truong Thi Thu Trang, Nguyen Le Hoa, Nguyen Thi Thuy, Bui Tuan Anh, Nguyen Chi Trung, and Alan de Brauw  

Click here for translation to English.

Giới thiệu

Nông dân sản xuất với quy mô nhỏ, lẻ ở các nước đang phát triển gặp rất nhiều trở ngại, điều đó hạn chế khả năng sản xuất của họ. Hai trở ngại – rủi ro cao trong sản xuất nông nghiệp và khả năng tiếp cận với tín dụng hạn chế - đang đặt ra những thách thức lớn. Người nông dân phải đối mặt với rất nhiều rủi ro làm hạn chế khả năng lựa chọn và quyết định đầu tư của họ. Sự hạn chế về tín dụng, các khoản cho vay và tiết kiệm, chưa đáp ứng được nhu cầu của toàn ngành nông nghiệp,các điều khoản cho vay có phần khắt khe là rào cản cản trở người nông dân tiếp cận với tín dụng nhằm phục vụ mục đích đầu tư vào những loại cây trồng hay những công nghệ mới đem lại lợi nhuận cao hơn (International Finance Corporation, 2014). Nghiên cứu cho thấy phần lớn nhu cầu tín dụng dài hạn ở khu vực Đông Nam Á không được đáp ứng (Shakhovskoy & Wendle, 2013). Khu vực Đông Nam Á với vị trí ở gần một số thị trường tiêu dùng lớn nhất thế giới đang tạo ra những cơ hội mới cho toàn khu vực. Mặc dù các dịch vụ tài chính hiện tại có thế phù hợp với một số người dân, nhưng việc tiếp cận tài chính đặc biệt còn hạn chế với phụ nữ, dân tộc thiểu số, nhóm người có thu nhập thấp và chịu rủi ro; trừ các nhóm dễ bị tổn thương từ các cơ hội kinh tế mới nổi.

Dự án Tín dụng theo Chuối giá trị Nông nghiệp nhằm tìm kiếm các mô hình tiềm năng để cải thiện khả năng tiếp cận tài chính trong chuỗi giá trị nông nghiệp cho các nhóm yếu thế ở ba quốc gia trong khu vực Đông Nam Á: Indonesia, Myanmar và Việt Nam. Chúng tôi  sử dụng thuật ngữ “tín dụng theo chuỗi giá trị nông nghiệp”, đề cập cụ thể đến các sản phẩm hoặc dịch vụ tài chính cho phép các tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị (ví dụ như: người cung cấp nguyên, vật liệu đầu vào; nông dân; thương lái; ngườisản xuất) xử lý và giảm thiểu những khó khăn trong hoạt động kinh doanh (Miller & da Silva, 2007). Những giải pháp này có thể là hợp đồng giữa các tác nhân trong chuỗi (ví dụ như hợp đồng giữa nông dân với thương lái). Những hợp đồng này vừa có vai trò như một giải pháp tín dụng lại vừa có vai trò như một sự bảo đảm. Tuy nhiên, khi tất cả các tác nhân tham gia gặp khó khăn, sự có mặt của một bên thứ ba, cung cấp tài chính là cần thiết. Mặc dù các chương trình tín dụng độc lập phù hợp với một số nông dân, các chương trình bảo hiểm lại có thể cần thiết cho số khác. Đối với các hộ gia đình có nhu cầu vốn, nhưng dễ đối mặt với thua lỗ,khi vay vốn thì các sản phẩm có sự kết hợp giữa tín dụng và bảo hiểm có thể có khả năng làm giảm thiểu những rủi ro đó.

Mục đích của báo cáo là mô tả thực trạng của tín dụng theo chuỗi giá trị nông nghiệp tại Việt Nam và đồng thời đề xuất những gợi ý chính sách để mở rộng tính khả thi của các loại hình tài chính này. Trong phần một của báo cáo, chúng tôi rà soát các chính sách cần thiết cho sự phát triển của tài chính chuỗi giá trị nông nghiệp. Những điểm chính liên quan đến chính sách bao gồm:

·        Cho phép lãi suất của các khoản vay chính thức được định giá bởi thị trường thay vì thông qua các quy định;

·        Hỗ trợ các hệ thống thanh toán và giao dịch toàn diện, an toàn;

·        Xây dựng khung pháp lý cho phép việc sử dụng tài sản thế chấp không phải bất động sản trong việc vay vốn và hệ thống hóa đơn kho;

·        Xây dựng khung pháp lý và/hoặc quy định hỗ trợ hợp đồng canh tác giữa các hộ sản xuất nhỏ;

·        Cho phép một hệ thống tài chính dựa trên công nghệ mở hơn, điều này cho phép các nhà cung cấp dịch vụ tài chính phi truyền thống thâm nhập thị trường.

Những mục tiêu chính sách này có thể làm tăng nguồn cung tín dụng đồng thời giảm các rào cản cho những người tham gia tiềm năng khác, khiến cho môi trường tài chính chuỗi giá trị nông nghiệp trở nên dễ dàng tiếp cận hơn. Nếu các nhà cung cấp mới có thể gia nhập thị trường tín dụng thì các nhà cung cấp hiện tại sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh và nhìn chung các dịch vụ tín dụng liên quan sẽ được cải thiện. Để đảm bảo rằng những người nông dân bên lề không bị loại trừ ra khỏi tín dụng theo chuỗi giá trị nông nghiệp thì điều quan trọng là cần phải đảm bảo rằng hệ thống tín dụng sẽ cho phép các tài sản khác ngoài đất được được dùng làm tài sản thế chấp và các nhà hoạch định chính sách đồng thời không được bỏ quên các khoản mục tiết kiệm và bảo hiểm. Trong phần còn lại của phần một, chúng tôi đồng thời phân tích cách thức các sản phẩm tín dụng theo chuỗi giá trị nông nghiệp được thiết kế. Chúng tôi đưa vào những ví dụ và bài học kinh nghiệm từ những chuỗi giá trị tín dụng khác nhau với mong muốn cung cấp một cái nhìn sâu sắc cho các chuỗi giá trị khác.

Thực trạng tại Việt Nam

Trong vài thập kỷ qua, Việt Nam đã có tiến bộ vượt bậc trong phát triển  kinh tế và xã hội. Việt Nam đã trở thành một nước thu nhập trung bình với tăng trưởng kinh tế ở mức cao. Các ngành dịch vụ và công nghiệp đã có sự tăng trưởng đặc biệt nhanh chóng, làm giảm tương đối tầm quan trọng của ngành nông nghiệp. Tuy nhiên, nông nghiệp vẫn chiếm khoảng 15% GDP trong năm 2017 và sử dụng 40% lực lượng lao động. Do đó, thúc đẩy sự phát triển của ngành nông nghiệp vẫn là một yếu tố chính để Việt Nam tiếp tục giảm nghèo.

Tăng trưởng của Việt Nam đã làm thay đổi diện mạo ngành nông nghiệp. Từ năm 1995 đến năm 2016, giá trị sản xuất lúa gạo tăng gấp bốn lần, trong khi sản xuất thịt lợn tăng trưởng mạnh, và cà phê trở thành một trong 5 mặt hàng hàng đầu. Ngay cả khi ngành nông nghiệp đã tương đối giảm tầm quan trọng thì vẫn đã tăng trưởng cả về tổng giá trị sản xuất và giá trị xuất khẩu, mang lại những cơ hội đầu tư tiềm năng.

Mặc dù nông nghiệp đã đạt được những thành tựu đáng chú ý, nhưng đã và vẫn bị hạn chế trong triển vọng tăng trưởng bởi thiếu cơ hội tài chính phù hợp và toàn diện cho nông dân sản xuất nhỏ. Các dịch vụ tài chính ở khu vực nông thôn, đặc biệt đối với những nông dân sản xuất nhỏ, có vai trò quan trọng hàng đầu đối với các nỗ lực giảm nghèo. Tuy nhiên, ở những khu vực này, tỷ lệ cung cấp tín dụng chính thức vẫn ở mức thấp, một phần do các chính sách ngân hàng yêu cầu phải giữ lãi suất ở mức thấp hơn so với thị trường. Tăng trưởng khả dụng tín dụng bị hạn chế bởi các quy định cũng như các yêu cầu về tài sản thế chấp, thời hạn đáo hạn và trả nợ hạn chế; không phù hợp với nhu cầu của nông dân và các thủ tục khắt khe hạn chế việc tiếp cận tín dụng của nông dân có thu nhập và trình độ học vấn thấp. Do nguồn cung  tín dụng chính thức không đủ, nông dân sản xuất nhỏ không đủ vốn để đầu tư hoặc phải sử dụng các nguồn vay phi chính thức. Các nguồn tín dụng phi chính thức được ước tính chiếm khoảng một phần ba các khoản vay nhưng phải trả chi phí lãi suất cao và tập trung trong ngắn hạn. Đáng chú ý, các hợp tác xã trong thời gian gần đây đã đóng vai trò như một nhóm các nhà cung cấp tín dụng phi chính thức có khả năng cho các nông dân vay vốn với các yêu cầu ít nghiêm ngặt hơn về tài sản thế chấp, đồng thời cung cấp các dịch vụ khác, tạo thuận lợi cho các hộ sản xuất nhỏ trong chuỗi giá trị.

Sự phát triển của các chuỗi giá trị bao trùm đem lại các cơ hội cho nông dân nghèo để thoát nghèo, đòi hỏi một hệ thống tài chính có thể đáp ứng linh hoạt hơn nhu cầu của họ. Điều này bao gồm quá trình xem xét điều chỉnh các quy định để các dịch vụ tài chính chính thức có thể mở rộng ra khu vực nông thôn, nhưng cũng đồng thời cần hỗ trợ sự phát triển của các tổ chức tín dụng phi chính thức. Hơn nữa, giáo dục trong lĩnh vực tài chính liên quan đến nhu cầu đặc biệt của khách hàng có nhu cầu vay vốn phục vụ mục đích sản xuất nông nghiệp có thể giúp cải thiện khả năng cung cấp vốn của các tổ chức tín dụng.

Chính sách liên quan đến chuỗi giá trị nông nghiệp của Việt Nam

Kể từ năm 1986, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xây dựng chủ trương tự do hóa nền kinh tế dưới sự điều tiết của chính phủ, đồng mở cửa hội nhập với thế giới. Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể, có thể nói Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới kể từ năm 1986, nguyên nhân sâu xa là do sự phát triển của hệ thống tài chính, bao gồm cả hệ thống tài chính liên quan đến nông nghiệp. Dưới góc nhìn nông nghiệp, chuỗi giá trị xuất khẩu của các loại cây trồng như gạo và cà phê đã phát triển mạnh trong thời kỳ đổi mới này.

Tuy vậy, tăng trưởng nông nghiệp vẫn bị tụt hậu so với tăng trưởng chung của toàn quốc, và hơn nữa hầu hết các ngân hàng của Việt Nam vẫn còn thuộc sở hữu của nhà nước. Chỉ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (VBARD) có chi nhánh ở hầu hết các tỉnh thành, điều đó có nghĩa là nông dân ở vùng sâu vùng xa khó tiếp cận với các tổ chức tài chính. Vì vậy, nhìn chung, người nông dân sản xuất nhỏ lẻ ở các vùng sâu vùng xa của Việt Nam vẫn còn tiếp tục gặp những trở ngại nếu muốn tham gia vào các chuỗi giá trị nông nghiệp. Tuy nhiên, dưới góc nhìn của tín dụng theo chuỗi giá trị nông nghiệp, những thay đổi về chính sách đặc biệt quan trọng đã diễn ra, bao gồm:   

u  Tài sản thế chấp là một trong những khó khăn lớn đối với các hộ sản xuất nhỏ nếu muốn tham gia vào chuỗi giá trị nông nghiệp. Đã có những cải cách và linh hoạt trong các yêu cầu về tài sản thế chấp cho vay trong thời gian qua, đây là một bước đi đúng hướng để hỗ trợ nông dân tiếp cận tín dụng.

u  Trong các chính sách đã được thực hiện trong thời gian qua, Nghị định 57 mới đây với mục tiêu khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp (Ancev, et al., 2019) quy định các khoản trợ cấp cho các đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, đồng thời giảm tiền thuê đất và trợ cấp lãi suất vay vốn.

u  Nghị định 116 được ban hành vào năm 2018, quy định về việc tăng quy mô khoản vay tối đa mà các tổ chức tín dụng có thể cung cấp cho các cá nhân và hộ gia đình mà không cần tài sản thế chấp liên quan đến sản xuất hoặc các doanh nghiệp nông nghiệp. Nghị định 116 đồng thời thúc đẩy nông nghiệp công nghệ cao thông qua các quy định về các khoản vay cho các dự án nông nghiệp công nghệ cao và khoản vay này có thể lên đến 70% tổng giá trị của dự án.

u  Luật đất đai Việt Nam năm 1993 đã thiết lập hệ thống của “sổ đỏ” (tức giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất) mang lại cho nông dân quyền sở hữu đất đai trong thời gian 20 năm đối với cây trồng hàng năm và thời gian 50 năm đối với cây lâu năm. Luật đất đai năm 2013 đã mở rộng thời hạn lên đến 50 năm đối với cây trồng hàng năm. Luật đất đai này đồng thời cho phép nông dân sử dụng sổ đỏ làm tài sản thế chấp, nhưng hiện tượng tranh chấp về đất đai lại trở nên phổ biến (OECD, 2015).

Thông qua ngân hàng VBARD, chính phủ Việt Nam vẫn tham gia sâu vào quá trình vay vốn của ngành nông nghiệp. Tuy nhiên, chưa rõ ràng về hỗ trợ tài chính đó với nông dân sản xuất nhỏ, vì các yêu cầu về thủ tục hành chính để nhận được hỗ trợ lại chính là gánh nặng và là chi phí trả trước rất cao để có thể nhận được trợ cấp (Ancev, et al., 2019). Sự can thiệp của nhà nước có thể đạt được những kết quả tốt hơn khi tập trung vào việc giải quyết các khiếm khuyết mà thị trường không thể tự khắc phục, bằng cách mở rộng các dịch vụ tài chính ở các khu vực có tiềm năng kinh tế và xã hội cao có thể khả thi về mặt thương mại. Hơn nữa, chính phủ có thể đầu tư vào hàng hóa công cộng như xây dựng hệ thống thông tin, thương mại hóa các tổ chức nông dân có khả năng thương mại và xây dựng các thể chế thị trường hiệu quả hơn. Làm như vậy có thể giúp các tổ chức tài chính phi truyền thống hoạt động một cách bình đẳng trong hệ thống  tín dụng theo chuỗi giá trị nông nghiệp, đồng thời cho phép nhiều chủ sở hữu nhỏ lẻ tiếp cận được với tín dụng theo chuỗi giá trị.

Cơ hội cho tín dụng theo chuỗi giá trị nông nghiệp tại Việt Nam

Ba xu hướng gần đây đang có tác động đáng kể đến sự phát triển nông nghiệp ở các nền kinh tế mới nổi: giá trị gia tăng trong nông nghiệp, sự xuất hiện của các cửa hàng bán lẻ và hệ thống siêu thị, và nhu cầu cần các lao động bán tay nghề tăng cao để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng đối với thực phẩm chế biến và đóng gói sẵn (Zander, 2015). Những xu hướng này có mặt ở nhiều nơi nhưng đặc biệt đáng chú ý ở Việt Nam, từ đó tạo ra cơ hội hấp dẫn cho xuất khẩu. Việt Nam có nhiều thuận lợi để tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng có giá trị cao bao gồm các sản phẩm có nguồn gốc là động vật, trái cây và rau quả sang các thị trường khác trong khu vực như Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan và Hàn Quốc. Việt Nam cũng đã nhanh chóng phát triển ngành công nghiệp cà phê trong thời kỳ đổi mới, và hiện giá trị xuất khẩu cà phê đạt gần 3 tỷ đô la mỗi năm.

Để tận dụng  lợi thế của các xu hướng ảnh hưởng đến ngành nông nghiệp Việt Nam và xuất khẩu nông sản đồng thời giảm nghèo, Việt Nam cần tập trung vào các chính sách hỗ trợ nông dân sản xuất nhỏ trong các khó khăn liên quan đến tài chính và rủi ro. Hiện nay, tín dụng nông nghiệp ở Việt Nam chủ yếu cung cấp bởi Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam và Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam, cả hai đều do nhà nước quản lý; hợp tác xã và tổ chức tài chính vi mô đóng vai trò it quan trọng hơn. Để thúc đẩy cạnh tranh, chính phủ nên khuyến khích sự phát triển hơn nữa của ngành tài chính, bao gồm cả việc mở rộng thị trường cho các tổ chức tín dụng phi truyền thống.

Những kết quả chính của báo cáo liên quan đến chuỗi giá trị nông nghiệp và nhu cầu tài chính của chuỗi giá trị này tại Việt Nam như sau:

1.     Tiềm năng cho sự phát triển liên tục của các chuỗi giá trị nông nghiệp cụ thể ở Việt Nam là rất lớn và đầy triển vọng, từ cả góc độ cung và cầu.

2.     Các loại hình tài chính hiện đang được cung cấp bởi các tổ chức tài chính không đủ để đáp ứng nhu cầu của tất cả các chủ thể dọc theo chuỗi giá trị nông nghiệp, đặc biệt là nhu cầu của các hộ sản xuất nhỏ.

3.     Chính phủ tập trung vào phát triển những chuỗi giá trị cụ thể theo phạm vi quốc gia và tỉnh thành. Trong số đó, trái cây và rau quả mang lại nhiều tiềm năng nhất cho sự phát triển của các hộ sản xuất nhỏ, theo sau là lâm nghiệp, gạo và chăn nuôi.

4.     Cơ hội tiếp cận tài chính trong lĩnh vực nông nghiệp bị hạn chế do thiếu sự tham gia của các tổ chức tài chính đa dạng khác nhau. Mặc dù nhu cầu của các tác nhân dọc theo các chuỗi giá trị khác nhau rất đa dạng, nhưng những nhu cầu này nhìn chung có thể được đáp ứng bởi các tổ chức tài chính truyền thống nếu như các sản phẩm thiết kế phù hợp. Phát triển các sản phẩm này đồng phối hợp với các tác nhân trong các chuỗi khác có thể tạo thêm các cơ hội mới để hỗ trợ nông dân sản xuất nhỏ và nâng cao sinh kế của họ.

5.     Số hóa cả hai ngành nông nghiệp và tín dụng dường như đóng vai trò quan trọng hơn trong việc tạo điều kiện tăng trưởng chuỗi giá trị nông nghiệp. Số hóa sổ đỏ và các hồ sơ tài chính có thể giúp đảm bảo các ngân hàng thương mại quốc doanh hoạt động hiệu quả hơn trong khi tạo điều kiện cho luồng thông tin và tài chính giữa các chủ thể trong chuỗi giá trị.

Những khuyến nghị chính sách chính cho Việt Nam

Để tín dụng theo chuỗi giá trị nông nghiệp đạt được hiệu quả, chúng tôi nhận thấy cần có hai thay đổi chính sách chính. Đầu tiên là về hệ thống tài chính nói chung, và sau đó là cách để cải thiện hệ thống tín dụng theo chuỗi giá trị nông nghiệp một cách cụ thể. Khuyến nghị của chúng tôi như sau:

u  Từ góc độ tài chính nói chung, xem xét cho phép các ngân hàng tự do, linh hoạt hơn nữa trong quá trình cho vay ngành nông nghiệp, cả về lãi suất và số tiền cho vay. Lãi suất cố định - ngay cả khi được trợ cấp, cũng có thể dẫn đến việc phân bổ tín dụng, điều này làm giảm lượng tín dụng dành cho nông dân có thu nhập thấp. Ngoài ra, lãi suất trần được quy định bởi tổng số tiền cho vay sẽ hạn chế tổng số vốn đầu tư.

u  Số hóa thông tin về đất đai nhưng không giới hạn ở giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ). Mục tiêu từ góc độ tín dụng theo chuỗi giá trị là đảm bảo quá trình sử dụng sổ đỏ để tài sản thế chấp có thể được sử dụng linh hoạt một cách hợp lý. Các chủ sở hữu nhỏ và ngân hàng nhận thấy chi phí giao dịch của các chủ sở hữu nhỏ cao; đảm bảo rằng nhiều nông dân có thể sử dụng một hình thức thế chấp hợp pháp, từ đó tạo điều kiện cho dòng chảy tài chính từ cả người cho vay truyền thống và phi truyền thống. Lý tưởng nhất, loại thông tin này nên được công khai.

u  Khuyến nghị trên đây sẽ giúp cải thiện quy định về tài sản thế chấp cho các hộ sản xuất nhỏ của Việt Nam để giúp thúc đẩy dòng vốn vay đến tay họ. Các hình thức thế chấp khác, chẳng hạn như hóa đơn kho, cũng nên được chấp nhận về mặt pháp lý. Trong khi Nghị định 57 đề cập đến nhu cầu về kho cho cây trồng, thì hiện tại không có quy định nào cho hệ thống kho nhận. Chúng tôi đề nghị tìm cách xây dựng luật để hợp pháp hóa các hình thức thế chấp thay thế như vậy.

u  Thúc đẩy sự phát triển các kỹ năng kinh doanh củacác nhóm nông dân, đặc biệt là ở các khu vực có tiềm năng cao. Điều này có thể bao gồm cả việc xây dựng các quy tắc kinh doanh để tạo điều kiện thúc đẩy rộng rãi. Nếu nông dân hoặc nhóm nông dân có nhiều kỹ năng kinh doanh hơn, thì họ sẽ góp phần phát triển chuỗi giá trị. Khuyến nghị này được đưa ra từ một phân tích về Nghị định 57 của Ancev và cộng sự (2019).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • Ancev, T., Nguyen, C. D., MacAuley, G., Yen, V. H., Hoang, U. D., Duong, P. B., & Nguyen, D. M. (2019). Evaluating and Improving Policies for Attracting Investment in the Agricultural Sector in Vietnam. Canberra: ACIAR.
  • International Finance Corporation. (2014). Access to Finance for Smallholder Farmers. Washington DC: International Finance Corporation.
  • Miller, C., & da Silva, C. (2007). Value Chain Financing in Agriculture. Enterprise Development and Microfinance, 95-108.
  • OECD. (2015). Agricultural Policies in Viet Nam 2015. Paris: OECD Publishing.
  • Shakhovskoy, M., & Wendle, J. (2013). Inflection Point: Unlocking growth in the era of farmer finance. Washington, DC: The Initiative for Smallholder Finance.
  • Zander, R. (2015). New Trends in Financing Agricultural Value Chains – Promising Practices and Emerging Recommendations for Policy Development. Bonn, Germany: GIZ.